This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Nấu ăn đơn giản

Hãy cùng gia đình bạn thưởng thức hương vị quê hương.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Tổng số lượt xem trang

giaitrisoctrang

Hiển thị các bài đăng có nhãn Động vật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Động vật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 23 tháng 11, 2018

Chuồn chuồn

Loài Chuồn chuồn 
Chuồn chuồn thời tiền sử khổng lồ
     Chuồn chuồn (Odonata) là bộ côn trùng, khoảng 4.500 loài hiện được biết tới, chia thành hai nhóm lớn: Chuồn chuồn ngô (Anisoptera) và Chuồn chuồn kim (Zygoptera), khác nhau chủ yếu ở tư thế của cánh khi đậu và hình dạng của ấu trùng. Chuồn chuồn thuộc lớp sâu bọ của ngành chân khớp.
    
     Chuồn chuồn có đầu tròn và lớn so với thân. Râu nhỏ, có hai đốt và một lông nhỏ dài phân đốt. Cơ quan miệng kiểu nghiền, 3 cặp chân có thể bắt mồi dễ dàng trong khi bay.
     Đôi mắt kép ở hai bên. Đôi mắt của chuồn chuồn được ghép bởi 300.000 vật kính (giống như thấu kính) và trở thành loài côn trùng có tầm nhìn tốt nhất trong giới động vật. Mỗi vật kính thu nhận một hình ảnh riêng được xử lý bởi 8 đôi tế bào thần kinh thị giác có nhiệm vụ kết hợp hàng nghìn hình ảnh lại với nhau để tạo nên một hình ảnh toàn diện nhất. Các yếu tố cảm biến hình ảnh cùng nhau được tích hợp trong bộ não của con vật. 
Đôi mắt kép của Chuồn chuồn
     Hai cặp cánh hai bên giống nhau, dài, mỏng và gần như trong suốt, và cử động độc lập nhau. Hệ gân cánh rất dày, nhiều gân gạch ngang chằng chịt, phức tạp, cuối bờ trước của cánh thường có mắt cánh là bộ phận điều chỉnh triệt tiêu rung động cơ học, đảm bảo cho cánh vững chắc. Tốc độ tối đa của chúng là từ 32km/h đến 65km/h.
Đôi cánh của Chuồn chuồn
      Phần thân bụng dài, chân mảnh hướng về trước.
     Phần phụ hậu môn ở đốt bụng thứ ba, thứ tư (ở con đực), thứ hai (ở con cái); cơ quan sinh dục ở đốt bụng thứ chín; cơ quan giao cấu thứ sinh ở đốt thứ hai (ở con đực).
Bụng và hậu môn của Chuồn chuồn
     Loài chuồn chuồn lớn nhất thế giới hiện nay là loài chuồn chuồn kim khổng lồ Trung Mỹ, Megaloprepus Coerulatus và Anax strenuus, một loài chuồn chuồn đặc hữu của quần đảo Hawaii. 
Chuồn chuồn kim khổng lồ
      Trong quá khứ, đã từng có loài chuồn chuồn với sải cánh dài 60 cm, hóa thạch của nó có niên đại 285 triệu năm. 
Hóa thạch Chuồn chuồn ngô
      Chuồn chuồn là côn trùng có ích, là thiên địch ăn thịt nhiều loài sâu hại cây trồng và ruồi, muỗi, bướm. Ấu trùng Chuồn chuồn sống trong nước (gọi là con Cơm Nguội hay Con Mày Mạy) khoảng 5 năm ăn thịt các loại cá nhỏ hay nòng nộc, sau đó lột xác và trở trưởng thành Chuồn chuồn.
      Chuồn chuồn trưởng thành thì sống trên cạn khoảng 1 tuần, đẻ trứng dưới nước sau đó sẽ chết. Do vậy, người ta thường thấy các con chuồn chuồn trưởng thành sống gần các đầm hay ao hồ. Tuy nhiên cũng có nhiều loài sống cách xa môi trường nước.

Vòng đời tiến hóa của Chuồn chuồn

Ấu trùng Chuồn chuồn
Ấu trùng lột xác thành Chuồn chuồn sau 5 năm sống dưới nước
Sóc Trăng (sưu tầm)

xem

Thứ Năm, 22 tháng 11, 2018

Bạch tuộc


Loài Bạch tuộc
  
    Là loại sinh vật thân ngắn, mềm, hình ôvan (oval) thuộc bộ Octopoda sống dưới đáy biển. Có khoảng 289 đến 300 loài bạch tuộc trên thế giới, chiếm hơn 1/3 tổng số động vật thân mềm.

    Bạch tuộc có 8 chi dạng xúc tu (tám chân). Có thân thể mềm, không có bất kỳ vết tích nào của vỏ hoặc xương bên trong, như mực biển hay mực ống. Bạch tuộc có đến 3 trái tim. Hai trái tim bơm máu xuyên hai mang trong khi trái tim thứ ba bơm máu đi khắp thân thể.
    Bạch tuộc có vòng đời tương đối ngắn, có loài chỉ sống được 6 tháng. Loài bạch tuộc khổng lồ ở Bắc Thái Bình Dương có thể sống tới 5 năm trong điều kiện lý tưởng. Tuy nhiên, sinh sản là một trong những nguyên nhân gây ra sự ngắn ngủi của vòng đời: những con bach tuộc đực có thể chỉ sống được vài tháng sau khi kết bạn, và những con bạch tuộc cái chết không lâu sau khi ổ trứng nở.  
     Bạch tuộc là động vật rất thông minh, khả năng học hỏi và có hệ thống trí nhớ, bao gồm cả trí nhớ ngắn hạn và dài hạn. Bạch tuộc con hầu như không học hỏi gì từ hành vi của bố mẹ, và chúng cũng có rất ít những liên hệ với bố mẹ.
Ảo thuật gia Bạch tuộc thoát khỏi hộp kính
    Ở Anh, những loài động vật thân mềm như Bạch tuộc được coi trọng và bảo vệ bằng pháp luật như những loài động vật có xương sống khác.
    Ba cơ chế phòng thủ tiêu biểu của Bạch tuộc là phun mực, ngụy trang và tự tháo bỏ tua. Hầu hết loài bạch tuộc có thể phun ra một loại mực hơi đen và dày như một đám mây lớn để thoát khỏi kẻ thù.
Bạch tuộc ngụy trang với nhiều màu sắc
      Bạch tuộc ngụy trang nhờ vào những tế bào da chuyên dụng có thể thay đổi màu, độ mờ và tính phản chiếu của biểu bì. Những tế bào sắc tố chứa đựng màu vàng, cam, đỏ, nâu, hay đen; một số loài có 3 màu, số khác có 2 hay 4. Những tế bào thay đổi màu khác cũng có thể được dùng để liên lạc hay cảnh báo những con bạch tuộc khác. Loài bạch tuộc xanh có độc sẽ trở thành màu vàng sáng khi bị khiêu khích.
      Một số loài Bạch tuộc có khả năng tách rời tua của nó khi bị tấn công. Những cái tua đã rời ra đó sẽ đánh lạc hướng kẻ thù. Chúng có thể biến đổi thân thể linh hoạt và màu sắc của mình giống những con vật nguy hiểm để dọa kẻ thù.
                                                    Bạch tuộc ngụy trang
    Tua giao cấu của bạch tuộc đực, thường là tua thứ ba bên phải, sẽ tách khỏi bạch tuộc đực trong thời gian giao cấu. Những con đực chết trong vòng vài tháng sau khi giao cấu. Những con cái có thể giữ tinh dịch trong thân chúng cho đến khi trứng trưởng thành. Sau khi được thụ tinh, Bạch tuộc cái đẻ khoảng 10.000 đến 70.000 trứng (số lượng này tùy thuộc vào mỗi loại và mỗi cá nhân). Bạch tuộc mẹ chăm sóc dàn trứng, bảo vệ chúng khỏi những loài thú ăn thịt và thổi nước qua trứng để cung cấp ôxy trong khoảng năm tháng (160 ngày) cho đến khi trứng nở.
Trứng Bạch tuộc
    Bạch tuộc mẹ không ăn trong suốt thời gian trên. Sau khi trứng nở, bạch tuộc mẹ chết và những con bạch tuộc con còn là ấu trùng mất một thời gian trong đám sinh vật trôi nổi, chúng ăn cua bể và ấu trùng sao biển cho tới khi chúng đủ lớn và chìm xuống đáy đại dương. Ở một số nơi sâu hơn, Bạch tuộc con không trải qua quá trình này. Đây là một khoảng thời gian nguy hiểm cho những con bạch tuộc con vì chúng có thể bị những sinh vật khác ăn động vật trôi nổi tấn công.
Bạch tuộc con nở
     Bạch tuộc có thị lực rất tốt. Bạch tuộc di chuyển bằng cách bò hoặc bơi. Nhưng cách di chuyển chính của chúng là bò, thỉnh thoảng mới bơi. Chúng chỉ di chuyển nhanh khi đói hoặc bị đe dọa, khi đó Bạch tuộc lợi dụng sức đẩy của nước để tạo phản lực tiến về trước.
Bạch tuộc săn cá mập
      Kích thước của Bạch tuộc có thể rất lớn. Những con bạch tuộc bị nhốt có khả năng mở nắp bể của mình và sống ngoài không khí trong một khoảng thời gian. Chúng còn có thể bắt và giết một số loại cá mập.
Sóc Trăng (sưu tầm)

xem

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2018

Loài mực

Loài mực
        Dưới đáy biển sâu, hai “gã khổng lồ” đang tiến hành cuộc chiến. Đó là cá nhà táng và mực khổng lồ Nam Cực, cá nhà táng dùng định vị bằng tiếng vang để săn mực, nhưng ngay cả khi đối đầu với kẻ thù to lớn, con mực vẫn chiến đấu mạnh mẽ.

        Các nhà khoa học biết được điều này bởi trên xác cá voi dạt vào bờ,  họ thường tháy các vết sẹo giác hút tròn lớn, do những chiếc xúc tu to bám chặt lên thân cá voi hằn lên.
        Kích thước rất đa dạng từ những con mực khổng lồ dài 14m, đến những loài mực lùn phương nam chỉ dài 2,5m. Chúng được xếp vào nhóm động vật chân đầu.

        Có khoảng 500 loài mực trên thế giới, chúng sống rải rác trên khắp các đại dương.
        Chúng là nguồn thức ăn tuyệt vời cho cá voi,  cá heo, cá mập, chim biển, các loài cá và cả những con mực khác.
        Trên thực tế, mực là loài săn mồi đáng sợ dưới biển. Nhưng những đặc tính thích nghi vượt trội nhất của chúng là cách thức tiến hóa để chặn đứng kẻ thù.
        Mực thường được tìm thấy ở cửa sông, biển sâu, và các vùng mước ngoài khơi. Chúng thường bơi thành từng đàn. Vùng nước lớn, không nơi nương náu khiến chúng dễ bị tấn công, nên cơ chế tự vệ đều tiên là đôi mắt ta và sáng. Loài mực khổng lồ có những con mắt to bằng cái đĩa ăn. Chúng là loài có mắt to nhất trong thế giới động vật.
       Tuy nhiên, khi trời tối hoặc nước âm u, mực sẽ dựa vào cảm biến thứ hai, được tạo từ hàng nghìn tế bào sợi nhỏ li ti dài khoảng 20 micron chạy dọc cơ thể. Các sợi tế bào được gán vào nowrron thần kinh.
       Các con vật khi bơi sẽ tạo ra đường rẽ nước. khi các sợi trên mình mực phát hiện chuyển động và truyền tín hiệu tới não, giúp chúng tìm hướng dòng nước. nhờ vậy, mực có thể cảm nhận được kẻ săn mồi ngay cả trong dòng nước tối tăm nhất.
       Nhờ lường được nguy hiểm, mực có thể ngụy trang kẻ thù. Da mực chứa hàng nghìn cơ quan nhỏ gọi là sắc tố bào, chứa sắc tố màu đen, nâu, đỏ, hoặc vàng và các vòng cơ bao quanh. Sắc tố bào phản chiếu các tế bào bên dưới, giúp mực đổi màu và hòa mình theo môi trường xung quanh. Khi các cô co lại, màu của sắc tố lộ ra.
       Ngược lại, khi các cơ giãn ra, màu cũng được giấu đi. Mỗi sắc tố bào được điều khiển riêng biệt bởi hệ thần kinh. Do đó, trong khi một số sắc tố bào nở ra, số khác vẫn co lại. cách sắp xếp đó tạo ra màu sắc tương phản, khiến thân dưới của mực có màu nhạt hơn thân trên, làm mất bóng khiến kẻ thù không thể nhận ra nó từ bên dưới.


       Tuy nhiên, vài loài săn mồi như cá voi hoặc cá heo không bị mắc lừa, chúng dùng sóng âm để xác định con mực ngụy trang. Để không bị lật tẩy, loài mực vẫn còn 2 tuyệt chiêu khác. Thứ nhất là dùng mực, phun ra từ nang. Mực của loài mực chủ yếu gồm dịch nhầy và melanin, tạo ra màu tối. khi phun mực, mực dùng vũ khí này để tạo ra vùng khói mù lớn có thể chặn hoàn toàn tầm nhìn của kẻ thù hay tạo bóng ảo trông giống với nó, gọi là giả hình, lừa kẻ săn mồi cho rằng đó là con mực thật.
       Khi bị dồn đến bước đường cùng, mực dựa vào phản lực để phóng vọt khỏi kẻ săn mồi, đạt vận tốc 40km/giờ và đi hàng mét trong vài giây. Khả năng này biến chúng thành động vật thân mềm nhanh nhất trên trái đất. vài loài mực phát triển hình thức thích nghi mới khá độc đáo. Loài mực quỷ sống ở vùng biển sâu, khi bị hoảng sợ sẽ dùng các xúc tu có màng để tạo thành áo choàng và trốn sau đó.  Mặt khác, chiếc đuôi cụt nhỏ của nó phun cát lên khắp mình  khi nó đào hang trốn khỏi tầm mắt kẻ thù.

       Mực bay ở thái bình dương dùng phản lực với mục đích khác: để phi thân koir mặt nước. khả năng thích nghi nhanh chóng của mực đã cho phép chúng sinh sôi nhanh chóng trong 500 triệu năm qua.
Sóc Trăng

xem

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2018

Tắc kè


Tắc kè

   1. Tắc kè (danh pháp: Gekko gecko) là một loài động vật bò sát trong chi Tắc kè, họ Tắc kè. Tên của nó được lấy để đặt cho chi và họ này.

   2. Đặc điểm sinh học

       Đầu dẹt, hình như hình tam giác, có phủ bởi vảy nhỏ dạng hạt. Mắt màu nâu hoặc vàng cam, mí mắt có màng trong suốt, con ngươi cử động dọc. Mắt tắc kè có độ tập trung rất tốt.
       Tắc kè có thân hình khá lớn (đứng thứ hai trong chi Tắc kè), con đực có thể dài tới 30 - 40cm, con cái 20 - 30cm, với trọng lượng dao động 150-300g. Tuổi thọ trung bình 7 - 10 năm, tuy nhiên cá biệt có những con nuôi nhất đã được ghi nhận sống đến 18 năm.
       Lưng màu xanh xám nhạt điểm đốm vàng hoặc đỏ sáng, có nhiều nốt sần. Con đực có màu sặc sỡ hơn con cái. Bụng trắng đục hoặc xám pha nhiều chấm vàng nhỏ.
       Đuôi chiếm 30 - 40% chiều dài cơ thể, có 6 - 9 khúc xám xen 6 - 9 khúc vàng nhạt,khi đứt có thể mọc lại, có 2 lỗ dưới hậu môn.
       Chân 5 ngón có vuốt (trừ 1 ngón không có). các ngón chân có tính bám dính tốt
       Tắc kè thường sống đơn độc, chỉ tìm đến nhau vào mùa giao phối
Tắc kè hoa
    3. Phân loại
      Hiện có hai phân loài của tắc kè được ghi nhận:
        G. g. gecko: vùng đông bắc Ấn Độ và đông Indonedia.
        G. g. azhari (Mertens 1955): Bangladesh.
Loài tắc kè Gekko Canhi
    4. Phân bổ
Tắc kè nước Việt nam
        Việt Nam: các tỉnh trung du và miền núi, rừng tràm và rừng đước Nam bộ, các đảo lớn ven biển.
        Thế giới: Đông bắc Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc,Thái lan, Lào, Campuchia.
Sóc Trăng

xem

Một số loài Bướm đẹp ở Việt Nam

Một số loài Bướm đẹp ở Việt Nam

Bướm vàng chanh di cư (Catopsilia pomona)

thuộc họ Bướm phấn (Pieridae)

Bướm Phấn cam di cư (Catopsilia scylla)
thuộc họ Bướm phấn (Pieridae)

Bướm Phấn gân đen (Appias libythea)
thuộc họ Bướm phấn (Pieridae)

Bướm trắng lớn chót cam đỏ (Hebomoia glaucippe)
thuộc họ Bướm phấn (Pieridae)

Bướm nâu Ấn Độ (Euploea core)
thuộc họ Bướm đốm (Danaidae)

Bướm hổ vằn (Danaus genutia)
thuộc họ Bướm đốm (Danaidae)

Bướm Đốm xanh nền đen (Tirumala septentrionis)
thuộc họ Bướm đốm (Danaidae)

Bướm trứng bay mạo danh lớn (Hypolimnas bolina)
thuộc họ Bướm giáp (Nymphalidae)

Bướm Giáp cánh ren vạch trắng (Cethosia cyane)
thuộc họ Bướm giáp (Nymphalidae)

Bướm hoa Păng xê đuôi công (Junonia almana)
thuộc họ Bướm giáp (Nymphalidae)

Bướm Phượng đốm vàng chanh (Papilio demoleus)
thuộc họ Bướm phượng (Papilionidae)

Bướm chai xanh thường (Graphium sarpedon)
thuộc họ Bướm phượng (Papilionidae)

Bướm cam đuôi dài (Papilio polytes)
thuộc họ Bướm phượng (Papilionidae)

Bướm Nhảy nâu đỏ (Iambrix salsala)
thuộc họ Bướm nhảy (Hesperiidae)

Bướm Phượng xanh đuôi nheo (Lamproptera meges)


Bướm ngô xanh (Zeltus amasa)

Bướm cánh vân hoa (Junonia atlites)

Bướm nâu cánh gân đen (Appias libythea)

Bướm lãng tử (Castalius rosimon)

Bướm nhãn lồng đỏ (Acraea violae)
Sóc Trăng (sưu tầm)



xem

Các loài bướm đẹp ở Việt Nam


Các loài bướm đẹp ở Việt Nam

     Việt Nam là miền đất của hàng trăm loài bướm khác nhau, trong đó có những loài đẹp, kỳ lạ và vô cùng quý hiếm.

Bướm kiếm
    Bướm kiếm có hình thái đẹp và giá trị thương mại cao. 
    Loài bướm hiếm này còn có tên trong Sách Đỏ Việt Nam, sống ở vùng núi cao thuộc các tỉnh Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang, Kon Tum và Lâm Đồng.
Bướm báo hoa đỏ
     Bướm báo hoa đỏ thường gặp ở khoảng trắng trong rừng hoặc ở khu dân cư. 
     Đây là loài bướm có kích thước tuy không lớn nhưng rất đẹp và hấp dẫn. 
    Bướm báo hoa đỏ có màu cam đỏ với diềm cánh dạng răng cưa rất sâu, nhọn, viền đen, vùng trung tâm cánh sau có phần nhỏ đóng. Con đực và con cái có màu sắc khác nhau.
Bướm lá khô
     Bướm lá khô còn có tên gọi khác là bướm lá sồi dải cam. Đây là loài bướm nổi tiếng vớ khả năng ngụy trang để lẩn trốn kẻ thù. 
      Khi chúng đậu và khép cánh lại, mặt dưới cánh giống hệt như một chiếc lá khô. Với phần đuôi cánh sau kéo dài như một chiếc cuống lá và một đường màu nâu kéo dài đến chót cánh trước tạo thành gân chính của lá.
Bướm hổ vằn
     Bướm hổ vằn nổi bật với bộ cánh vô cùng bắt mắt. Đây là loài bướm phổ biến và xuất hiện quanh năm ở nước ta. 
     Thức ăn của chúng là loài cây có độc. Bướm hổ vằn có màu cam sậm với màu đen chạy dọc các đường gân cánh rõ ràng. 
     Loài bướm này sống ở các độ cao khác nhau và các môi trường khác nhau trừ các rừng nguyên sinh ở độ cao trên 700m.
Bướm phượng Aturus
     Bướm phượng Aturus còn được gọi là bướm công xanh. Đây là loài bướm lớn và có hình dáng, màu sắc đẹp thường thấy trong rừng. 
     Ở nước ta, bướm công xanh thường phân bố ở các khu rừng miền bắc và miền trung.
Bướm đuôi lá xanh
     Bướm đuôi dài xanh là loài bướm lớn, có đuôi dài với kích thước sải cánh từ 180 - 190 mm.
     Ngày nay bướm đuôi xanh càng hiếm do diện tích rừng bị thu hẹp nhanh, vì vậy mà nó đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam. 
    Đây là loài bướm này rất được ưa chuộng để sưu tập do có màu sắc và hình dáng lạ mắt. 
Sóc Trăng

xem

Các loài rắn hổ độc ở Việt Nam

Các loài rắn hổ độc ở Việt Nam

       Việt Nam là nơi cư ngụ của gần 200 loài rắn thuộc tám họ. Rắn độc chủ yếu thuộc hai họ rắn hổ và rắn lục.

Rắn hổ mang chúa (Ophiophagus hannah) 
     Rắn hổ mang chúa mặc dù không chủ động tấn công con người nhưng vẫn được đánh giá là loài nguy hiểm và đáng sợ trong phạm vi sinh sống của chúng. 
    Không chỉ có khả năng phóng nọc độc, loài rắn này còn có khả năng khống chế lượng chất độc khi cắn con mồi. 
     Nọc độc của rắn hổ mang có độc tố tác động làm tê liệt hệ thần kinh, khiến người bị cắn rơi vào hôn mê vào bỏ mạng. Chúng phân bố ở tất cả các vùng ở Việt Nam.

Rắn hổ đất (Naja kaouthia)
     Rắn hổ đất hay còn gọi là hổ mang một mắt kính hay hổ phì.
    Mỗi khi bị kích thích, cổ của loài rắn bành ra rất đáng sợ. Chỉ một lượng nhỏ nọc độc của loài rắn này cũng có thể khiến con mồi chết bất đắc kỳ tử.
     Chúng phân bố ở tất cả các vùng ở Việt Nam.

Rắn cạp nong (Bungarus fasciatus)
     Rắn cạp nong sinh sống ở nhiều môi trường sống khác nhau, từ rừng đến những vùng đất nông nghiệp. 
     Đây là loài rắn độc cỡ tương đối lớn, thường dài trên 1m, đặc điểm là có những mảng khoang màu vàng đen rất rõ ràng và nổi bật. 
      Nọc độc của rắn cạp nong không thua gì rắn hổ mang.

Rắn cạp nia 
    Rắn cạp nia có đặc điểm nhận dạng là đầu thon mảnh, con ngươi tròn, có mảng khoang màu khác biệt như rắn cạp nong nhưng màu của chúng lại là đen và trắng xám. 
     Sinh sống tại các đồng cỏ và các cánh rừng có nhiều bụi rậm.
     Rắn cạp nia là nỗi kinh hoàng của con người khi bắt gặp phải chúng.

Rắn hổ mèo (Naja siamensis)
     Rắn hổ mèo còn gọi là rắn hổ mang Xiêm.
    Đây là một phân loài của rắn hổ phun nọc. Tính khí thay đổi tùy thuộc vào thời gian trong ngày, sáng thì nhút nhát hiền lành, tối đến liền hung dữ, ác độc. 
    Nọc độc của rắn hổ mèo khiến nó trở thành sát thủ động vật với tác động gây hoại tử, chết tế bào, có khả năng giết chết khiến một người khỏe mạnh, trưởng thành.
Sóc Trăng





xem