This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Nấu ăn đơn giản

Hãy cùng gia đình bạn thưởng thức hương vị quê hương.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Tổng số lượt xem trang

giaitrisoctrang

Hiển thị các bài đăng có nhãn Phát minh nổi tiếng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phát minh nổi tiếng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 5 tháng 11, 2018

Đầu máy xe lửa

Đầu máy xe lửa đầu tiên

     Năm 1712 người thợ rèn và là nhà phát minh Thomas Newcomen phát minh ra động cơ hơi nước.
     Đầu thế kỷ 18, James Watt (1736 - 1819). Nhà phát minh người Scottland, đã có nhiều cải tiến về máy hơi nước.
James Watt (1736 - 1819)
     Năm 1757 ông được phép mở một cửa hàng nhỏ chế tác dụng cụ là cơ hội để ông thực hiện các nghiên cứu của mình.
    Năm 1769, Nicolas Joseph Cugnot, một kỹ sư trong quân đội Pháp, là người đầu tiên đã hoàn thành được một chiếc xe tự động. Đó là một thứ xe kéo có 3 bánh và dùng hơi nước. Tại phía trước chiếc bánh xe đơn độc và cũng là bánh xe lái, có đặt một nồi tròn bằng đồng và hơi nước bốc ra từ đây. Rồi hơi nước được dẫn vào hai xy lanh và hai pít tông tác dụng vào hai bên bánh xe lái. Trong chuyến chạy thử, xe Cugnot đã chở được 4 hành khách và chạy với vận tốc 6 dậm một giờ.
                                  Nicolas Joseph Cugnot đã chế tạo một chiếc xe kéo súng đại bác
     Một người tiền phong nữa trong ngành xe tự động có tên là William Symington, thợ máy gốc Tô Cách Lan. Symington đã chế tạo được một xe 4 bánh chạy bằng hơi nước. Chiếc xe này trông giống như một đầu xe lửa chạy giật lùi vì nó gồm có phần hành khách ngồi tại phía trước tài xế và phía sau là nồi nước với ống khói.

    Năm 1786, một nhà phát minh khác người Tô Cách Lan tên là William Murdock, nhờ sửa chữa các máy hơi nước mà có nhiều kinh nghiệm về loại máy móc này. Murdock đã chế ra một xe 3 bánh chạy bằng hơi nước. 
     Nhưng sự tiến bộ về xe tự động thực ra là nhờ các công lao của Richard Trevithick, một người thợ chuyên về máy hơi nước tại mỏ Cornwall. Sau khi đã thử nhiều loại máy hơi nước và thay vì lắp chiếc máy vào loại xe ngựa thông thường, Trevithick lại đóng riêng một sườn xe thích hợp với chiếc máy hơi nước này. 
    Trevithick đã chế tạo được một chiếc xe lửa, cho xe chạy thử vào đêm hôm trước Lễ Giáng Sinh năm 1801. Trevithick là người đầu tiên làm ra xe lửa dùng máy hơi nước chạy trên quốc lộ tại nước Anh. Trong các năm kế tiếp, Trevithick đã đóng nhiều loại xe và vào năm 1804, một xe lửa của Trevithick gồm 5 toa, chở được 9 tấn sắt, 70 người và chạy được 15 cây số (9.5 dậm). Như vậy đây là thành công đầu tiên về đầu máy xe lửa trên thế giới.

     Tại Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ 18, nhiều nhà phát minh đã nghĩ về loại xe dùng sức của hơi nước. Nathan Read đã lấy bằng phát minh vào năm 1788 về một nồi đun hình trụ và loại nồi nước này đã được nhiều người lấy mẫu. Read cũng chế tạo được một xe chạy hơi nước và đã cầu chứng.
    Một nhà phát minh người Mỹ khác cũng quan tâm tới năng lực của hơi nước là Oliver Evans, người sửa chữa bánh xe tại Philadelphia. Evans đã nhìn thấy khả năng của loại xe dùng sức mạnh của hơi nước. 
    Năm 1787, Evans xin tiểu bang Maryland cho độc quyền chế tạo và khai thác xe chạy bằng hơi nước. 13 năm sau, Evans chế tạo được một bộ máy hơi nước và đã dự định đem áp dụng vào loại xe chạy trên đường lộ nhưng Evans bị quần chúng phản đối nên đã bỏ qua ý tưởng này. Khi bênh vực kế hoạch của mình, Evans đã tiên đoán như sau: "Sẽ đến một ngày, dân chúng từ tỉnh nọ sang tỉnh kia bằng các toa tầu chuyển vận do hơi nước mà cũng nhanh như chim bay, tức là từ 15 tới 20 dậm một giờ. 
     Trên loại xe này khởi hành từ Washington vào ban sáng, hành khách sẽ dùng điểm tâm tại Baltimore, ăn cơm trưa tại Philadelphia và trong cùng một ngày, dùng cơm chiều tại New York". Vào năm 1804, khi mọi người tưởng rằng Evans đã quên các giấc mộng "điên khùng" thì nhà phát minh bướng bỉnh này lại sản xuất ra được một thứ sà lan (scow) bên dưới có các bánh xe và dùng một máy hơi nước đẩy xe.
     Tới khi nhiều loại xe cộ dùng năng lực hơi nước đã chuyển vận được thì nhiều nhà phát minh quay về cải tiến dần dần loại xe chuyển chở mới này. Các xe đầu tiên không có gì khác hơn là các xe ngựa được lắp máy hơi nước, chúng trở thành những "xe lửa" đầu tiên, vừa to lớn, vừa thô kệch và nguy hiểm, khiến cho dư luận dân chúng không muốn loại xe cộ này chạy trên quốc lộ. Các nhà chế tạo xe dùng hơi nước liền nghĩ tới việc thiết lập những con đường riêng, như vậy họ tránh được sự phản đối của các người dùng đường lộ và lại được tự do hoàn toàn. Sự tiến triển này khiến cho đường rầy xe lửa ra đời.

Sóc Trăng

xem

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2018

Động cơ hơi nước

Động cơ hơi nước

        Cỗ máy hơi nước đầu tiên của nhân loại do Thomas Newcomen phát minh năm 1712 đã giúp nước Anh đáp ứng nhu cầu năng lượng trong nửa đầu thế kỷ 18, tạo điều kiện cho sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất.

Mô hình cỗ máy hơi nước Newcomen
      Thomas Newcomen chào đời vào ngày 24/2/1663 tại thành phố Darthmouth, hạt Devonshire (Anh). Vào thời đó ngành khai thác thiếc phát triển mạnh ở Darthmouth. Có tài liệu cho rằng ngay từ nhỏ ông đã học nghề thợ rèn. Khi lớn lên Newcomen buôn bán và chế tạo các công cụ bằng sắt dành cho ngành khai thác mỏ tại Darthmouth.
       Nhiều mỏ khai khoáng thời đó được đào sâu đến nỗi nước thường xuyên tràn vào, gây nên tình trạng ngập lụt. Để có thể tiếp tục khai thác than người ta phải tìm ra biện pháp bơm nước ra khỏi hầm. Thực tế ấy khiến Newcomen trăn trở. Ông muốn chế tạo một cỗ máy có khả năng bơm nước từ thấp lên cao. Năm 1712, Newcomen chế tạo thành công cái mà ông gọi là “cỗ máy không khí”, nhưng người ta thường gọi là cỗ máy hơi nước. Nhiều học giả ở thế kỷ 18 và 19 ghi lại rằng, ông đã mất 10-15 năm để nghiên cứu nó.
Hình vẽ thể hiện nguyên lý hoạt động của cỗ máy Newcomen. Chuyển động lên xuống của pit-tông được truyền sang máy bơm nhờ đòn cân bằng
       Nguyên lý hoạt động của cỗ máy Newcomen rất đơn giản. Hơi nước được đưa vào một xi lanh, buộc pit-tông chuyển động ra ngoài. Nước lạnh được phun vào pit-tông khiến hơi nước ngưng tụ và tạo ra môi trường chân không. Áp suất không khí buộc pit-tông quay trở lại vị trí ban đầu của nó. Sau đó hơi nước lại tràn vào xi lanh để tiếp tục chu trình mới. Công năng phát sinh từ chuyển động qua lại của pit-tông được truyền tới máy bơm thông qua một đòn cân bằng. Nhờ đó mà máy bơm có thể hút nước liên tục.
       Cỗ máy của Newcomen được sử dụng rộng rãi tại hàng nghìn mỏ than trên khắp nước Anh và cứu nhiều chủ mỏ khỏi cảnh phá sản. Nó giữ vị trí độc tôn suốt 3/4 thế kỷ cho đến khi John Smeaton rồi James Watt cải tiến động cơ hơi nước.
Một cỗ máy hơi nước Newcomen trong mỏ than
        Newcomen qua đời tại London vào ngày 5/8/1729. Do có công chế tạo cỗ máy hơi nước đầu tiên trong lịch sử nhân loại, ông được coi là người đặt nền móng cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất. Phát minh của Newcomen đã giải quyết được cuộc khủng hoảng năng lượng trong thế kỷ 18, bởi nó cho phép người ta khai thác những mỏ than sâu mà trước kia họ không thể với tới do tình trạng ngập nước. Khi nhu cầu to lớn về than được đáp ứng, nền sản xuất của nước Anh phát triển mạnh mẽ và tạo nên cuộc cách mạng công nghiệp. Nhưng cũng có nhiều nhà khoa học cho rằng, sự ra đời của máy hơi nước Newcomen đánh dấu kỷ nguyên mà trong đó con người lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.
Sóc Trăng

xem

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2018

XE ĐẠP

XE ĐẠP
Chiếc xe đạp rất đạp rất đẹp phải không các bạn?
nhưng rất ít ai biết rằng để có được kiểu dáng đẹp như vậy thì chiếc xe đạp đã trãi qua biết bao là sự cải  cách kiểu dáng ấy nhỉ? chúng ta cùng tìm hiểu nhé!


     Xe đạp là một phương tiện giao thông có hai bánh, dùng bàn đạp để điều khiển, hai bánh xe được gắn trước và sau một khung xe . Đa số xe đạp chuyển động nhờ lực đạp của người điều khiển, và giữ thăng bằng nhờ định luật bảo toàn mômen quán tính.
     Thế kỷ 19 ở Châu Âu xe đạp đã được đưa vào sử dụng. Xe đạp là phương tiện chính của giao thông ở nhiều khu vực. Năm 2003, xe đạp có số lượng hơn một tỷ trên toàn thế giới.  Xe đạp cũng là một hình thức phổ biến cho giải trí, và đã được điều chỉnh để sử dụng như đồ chơi trẻ em, thiết bị trong phòng tập thể dục, các ứng dụng trong quân đội và cảnh sát, dịch vụ chuyển phát nhanh, và đua xe đạp.
     Năm 1817, nam tước người Đức là Baron Karl von Drais đã phát minh ra chiếc xe mang tên ông gọi là Draisienne (xe của Drais) được xem là tổ tiên của xe đạp. Drais đã giới thiệu mô hình xe này cho công chúng tại Mannheim vào mùa hè 1817 và tại Paris năm 1818. Người lái ngồi dạng chân trên một khung gỗ được hỗ trợ bởi hai bánh xe và đẩy chiếc xe bằng hai chân của mình trong khi chỉnh hướng bằng bánh xe phía trước.
xe của Drais
     Sáng kiến lắp thêm bàn đạp cho bánh trước được cho là thuộc về hai anh em Ernest Michaux và Pierre Michaux, thợ đóng xe ở Paris. Vào năm 1865, khi phải sửa chữa một cái Draisienne, họ đã lắp cho nó một chỗ để chân, mô phỏng tay quay của máy quay tay của họ. Tuy nhiên, trước đó, vào năm 1849, có thể một thợ cơ khí Đức là Heinrich Fischer đã sáng chế ra pê đan trước hai anh em Michaux. Pêđan ở bánh trước khiến cho bánh trước có kích thước lớn (lớn hơn bánh sau) để tăng quãng đường đi trong mỗi vòng đạp. Cải tiến này đã mang lại tên gọi mới cho thiết bị, bicycle (xe đạp).
    Một số phát minh sau này đã sử dụng ổ đĩa phía sau bánh xe, nổi tiếng nhất là xe đạp sử dụng các thanh điều khiển của Thomas McCall, người Scotland năm 1869. Cũng trong năm đó, xe đạp có bánh xe với nan hoa của Eugène Meyer, người Paris, đã được cấp bằng sáng chế. Vélocipède (tiếng Pháp), chiếc xe đạp làm bằng sắt và gỗ, phát triển thành xe "penny-farthing" (trong lịch sử cơ khí được coi là "chiếc xe đạp bình thường"). Nó bao gồm một khung thép hình ống trên đó có gắn bánh xe có nan hoa với lốp cao su rắn. Những chiếc xe đạp này rất khó đi do chỗ ngồi cao và phân bố trọng lượng không tốt. Năm 1868 Rowley Turner, một đại lý bán hàng của Công ty máy khâu Coventry (mà nhanh chóng trở thành Công ty Coventry Machinist), mang một chiếc xe đạp của Michaux tới Coventry, Anh. Chú của ông, Josiah Turner, và đối tác kinh doanh James Starley, sử dụng chiếc xe đạp này để sản xuất xe đạp nhãn hiệu 'Coventry Model', và công ty trở thành nhà máy sản xuất xe đạp đầu tiên của Anh.
     Xe đạp vốn được làm bằng gỗ. Từ năm 1869 các xe đạp này đã được làm bằng thép.
    Năm 1879, một người Anh là Lawson đã sáng chế xích để truyền động cho bánh sau. Sáng chế này kèm theo các cải tiến ở khung, đùi, đĩa, pêđan, hệ tay lái và phuộc. Năm 1885, J.K Sartley cho bánh trước có cùng đường kính với bánh sau và làm cái khung bằng ống thép.
  mô hình đầu tiên của xe đạp đã ra đời.

    Năm 1887, John Boyd Dunlop, một nhà sáng chế Scotland, tiếp tục cải tiến bánh xe với việc dùng ống hơi bằng cao su, do bánh xe lúc trước còn rất xóc.
   Năm 1890, Roberton ở Anh và Édouard Michelin ở Pháp làm cho bánh có thể tháo lắp được.
xe đạp Phượng Hoàng ở Trung Quốc
    Năm 1920, do xe quá nặng nên người ta đã đổi thành ruột rỗng cho xe nhẹ hơn, chất liệu của xe thì được đổi thành hợp kim.
    Năm 1973, xe địa hình được chế tạo ở California.
xe đạp địa hình
Sóc Trăng

xem

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2018

Chiếc điện thoại đầu tiên

Chiếc điện thoại đầu tiên

    Trong thế giới hiện đại, chiếc điện thoại đã trở thành một vật dụng hữu ích không thể thiếu đối với đời sống của con người. Và người đã tạo ra cuộc cách mạng cho ngành bưu chính viễn thông này chính là Alexander Graham Bell, ông tổ của chiếc điện thoại ngày nay.

      Alexander Graham Bell (sinh ngày 3/3/1847, mất ngày 2/8/1922) là nhà phát minh, nhà khoa học, nhà cải cách người Scotland. Ông sinh ra và trưởng thành ở Edinburgh, Scotland, sau đó di cư đến Canada vào năm 1870 và đến Mỹ vào năm 1871 rồi trở thành công dân Mỹ từ năm 1882. Bell luôn cảm thấy hứng thú đối với việc tái hiện âm thanh.
    Năm 23 tuổi, Alexander Graham Bell tập trung nghiên cứu về giọng nói của con người và tai, do vậy ông đã khám phá ra phương pháp truyền tin bằng điện.

     Trước khi chiếc máy điện thoại của Bell ra đời vào năm 1876, ý tưởng về một chiếc máy điện thoại đã được đem ra tranh luận từ năm 1844. Nhưng phải hơn 30 năm sau, người ta mới biến được giấc mơ đó thành hiện thực, với cuộc gọi đầu tiên được thực hiện giữa Alexander Graham Bell và người trợ lý của ông ngồi cách đó 4-5 mét vào ngày 10/3/1876 với mẩu hội thoại ngắn ngủi: “Watson, anh đến đây nhé, tôi có việc cần!”. 
     Bell biết rằng, thí nghiệm của mình đã thành công và đây chính là sự kiện lịch sử đánh dấu chính thức sự ra đời của chiếc điện thoại liên lạc.
     Chiếc điện thoại của Alexander Graham Bell thực sự là một bước tiến công nghệ đột phá, là kết quả của một nỗ lực nghiên cứu tìm tòi ra phương thức liên lạc mới thay thế cho máy điện báo thô sơ thường được sử dụng trước đó.
      Bell đã được nhận bằng phát minh số 174465 về máy điện thoại. Tháng 6/1876, lần đầu tiên, máy điện thoại được đưa vào sử dụng tại hội chợ triển lãm “Contennial Exposition” ở Philadelphia.
                                    Alexander Graham Bell nói chuyện qua điện thoại năm 1892.

      Những chiếc điện thoại được sản xuất hàng loạt với thiết kế thô sơ chỉ có 2 đầu: một ống nói và một ống nghe.
      Đến sự ra đời tiếp sau đó của những chiếc bốt điện thoại. Bốt điện thoại báo hiệu một xu hướng của tương lai khi mà chúng giúp bạn có thể gọi cho bất cứ ai khi đi trên đường. Đây chính là tiền đề để các mẫu điện thoại tiến gần hơn đến “mốc” di động.
                                     "Điện thoại di động" đầu tiên với tên gọi "Carry phone"

       Năm 1967, chiếc điện thoại “di động” đầu tiên có tên là “Carry phone”, đánh dấu một bước tiến gần hơn đến mẫu điện thoại di động nguyên bản. Mang danh là di động nhưng việc sử dụng nó thì vô cùng bất tiện khi người ta cứ phải vác “kè kè” bên mình một chiếc hộp máy to sụ nặng tới 4-5 kg và giá thành lại rất cao nên nó hầu như không được phổ biến rộng rãi cho đến khi phiên bản nhỏ gọn của nó được tung ra thị trường.

      Ngày 3/4/1973, mẫu điện thoại cầm tay đầu tiên Motorola Dyna Tac do nhà phát minh Martin Cooper sáng chế được “trình làng”. Tuy nhiên, khi đó chúng đơn thuần là một màn trình diễn công nghệ mới chứ chưa thể được dùng để thay thế hoàn toàn cho điện thoại cố định. Hình dáng ban đầu giống như một “cục gạch” nặng nề thô kệch và vô cùng bất tiện khi mang theo mình.
                           Motorola Dyna Tac do Martin Cooper sáng chế 1973 

      Từ đó đến nay, chiếc điện thoại di động đã không ngừng phát triển cả về công nghệ và kiểu dáng. Các thương hiệu sản xuất di động hàng đầu trên thị trường có thể kể đến như Nokia, Blackberry, Samsung, LG, Sony Ericsson, Motorola… 
     Chúng ta không thể dự đoán trong tương lai chiếc điện thoại sẽ còn thay đổi đến đâu khi mà những tiến bộ khoa học công nghệ đang không ngừng phát triển. Song có một điều chắc chắn rằng, nó vẫn là một trong những vật dụng thiết yếu của chúng ta...
Sóc Trăng (sưu tầm)




xem

Người phát minh ra tivi đầu tiên

Người phát minh ra tivi đầu tiên

      Năm 1885 một sinh viên người Đức Níp-câu ( Paul Gottlieb Nipkow) đưa ra phát kiến hệ thống tivi cơ điện tử đầu tiên. Thiết kế quay đĩa của Nipkow được xem là chuyển đổi hình ảnh thành các điểm chấm.
      Năm 1907, sự phát minh của công nghệ ống phóng đại mới giúp các thiết kế của ông thành hiện thực.
      Ngày 25/8/1900 thời điểm đó Péc-ski (Constatin Perskyi) đề xuất từ Tivi trong một xuất bản tại Viện điện tử quốc tế ở Hội chợ Quốc tế ở Pari. Các xuất bản của Perskyi tóm tắt lại công nghệ cơ điện tử, đề cập đến thành quả của Nipkow và các đồng sự.
Năm 1911, Râu-sinh (Boris Rosing) và học trò của ông, Vô-ri-kin (Vladimir Kosma Zworykin) thành công trong việc tạo ra hệ thống tivi sử dụng bộ phân hình gương để phát hình, theo Zworykin, "các hình rất thô" qua các dây tới ống điện tử Braun (ống cathode) trong đầu nhận. Các hình không chuyển động vì bộ phân hình, có "độ nhạy cảm không đủ và các phân tử selen quá chậm".
     Năm 1931 Rosing bị Stalin đày đến Ác-khan-ghen (Arkhangelsk) và qua đời năm 1933, nhưng Zworykin sau đó quay lại làm việc cho RCA để xây dựng tivi điện tử, thiết kế này sau đó bị phát hiện là vi phạm bản quyền của Phan-sớc (Philo Farnsworth), người đã công bố hệ thống phát hình đầu tiên từ năm 1928 trước đó. 

Philo Farnsworth

      Năm 1920, nhà khoa học Mỹ Gien-kin (Charles Francis Jenkins) và nhà khoa học Anh (Be-đơ) John Logie Baird đã tạo ra vật mẫu thành công đầu tiên của chiếc TV. Năm 1927, một người Mỹ trẻ tuổi là Phan-sớt (Philo Taylor Farnsworth) đã phát triển thành công phiên bản thương mại ống tia cực âm nhằm phát tín hiệu truyền hình điện tử và đây là bước đột phá trong nghệ truyền hình của nhân loại.
      Năm 1930, một vài tiêu chuẩn của công nghệ TV cùng xuất hiện và cạnh tranh để thống trị thị trường non trẻ này. Một trong những sản phẩm chiếm ưu thế là chiếc EMI-Marconi. 
      Năm 1950 có thể chạy 25 khung hình trên một giây và khá phổ biến tại Anh. Một tiêu chuẩn TV khác có thể chạy 30 khung hình trên giây và chủ yếu phát triển tại Mỹ. Chiếc TV thương mại thành công đầu tiên bắt đầu xuất hiện tại các Triển lãm (showroom) ở Mỹ vào đầu những năm 1950. 
      Ngay khi nhận thấy những nội dung trên TV có giá trị khai thác, các công ty lập tức lao vào chạy đua trong ngành truyền hình. Thực tế này dẫn đến sự cần thiết phải có quy định về tần số phát sóng của các kênh. Sức mạnh của TV là việc phát trực tiếp những bước đi lịch sử của nhà du hành Mỹ Em-strông (Neil Amstrong) trên mặt trăng, ngày 20/1/1969. Nỗ lực phát triển TV màu xuất hiện từ đầu những năm 1950 và chiếc đầu tiên được hãng RCA giới thiệu năm 1954.
      Nhưng phải đến những năm 1960 việc bán các TV màu mới bắt đầu sinh lợi. Tới năm 1974 thì TV màu đã trở thành biểu tượng cho các gia đình giàu có tại Mỹ. 
      Năm 1959, hãng Philco đưa vào thị trường chiếc TV chỉ có màn hình rộng 2 inch và có thể thu cả sóng radio. 
      Năm 1980, ngành truyền hình Mỹ do 3 mạng lưới chính thống trị, trong khi khán giả tại các nước châu Âu và châu Á bị giới hạn trong các lựa chọn chương trình.
      Ngày nay ở Việt Nam TV đã phổ biến rộng rãi với các dạng khác nhau và có thể bắt được hàng trăm kênh khác nhau trong và ngoài nước.
Sóc Trăng

xem

Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2018

Phát minh radio đầu tiên

Phát minh radio đầu tiên

Sóng Radio:


     Sóng radio hay sóng vô tuyến là một dạng bức xạ điện từ có phổ dài hơn ánh sáng hồng ngoại, tần số từ 3 kHz đến 300 GHz.
     Sóng vô tuyến truyền với vận tốc vận tốc ánh sáng và trong tự nhiên, nó xuất hiện từ hiện tượng sấm sét.

 James Clerk Maxwell (1831-1879)
cha đẻ của thuyết sóng điện từ

Thí nghiệm của Hans Christian Ørsted​ về sóng điện từ


     Radio là thiết bị điện tử nhận các sóng âm đã được biến điệu qua ăng-ten để khuếch đại. Máy radio hình thành dựa trên sự phát triển của 3 phát minh có mối liên hệ mật thiết với nhau, đó chính là radio, máy điện báo và điện thoại (Wireless telegraphy).


    Chiếc máy radio bắt đầu từ việc phát minh ra "Sóng radio" (Radio wave) - một loại sóng điện từ có khả năng truyền âm nhạc, giọng nói, hình ảnh và cả dữ liệu trong không trung từ nơi này đến nơi khác.

    Các thiết bị sử dụng sóng điện từ với các tần số khác nhau nhằm thực hiện các chức năng khác nhau.

    Sóng radio có tần số trong khoảng từ 3 Hz đến 300 GHz.



   Vào năm 1800, Alessandro Volta đã phát triển những phương pháp để tạo ra dòng điện. Tiếp theo là Gian Domenico Romagnosi với nghiên cứu về sự liên quan giữa dòng điện và từ tính nhưng nghiên cứu của ông chưa được công nhận.
 Bảng phác thảo thí nghiệm 
qua 2 con diều của Mahlon Loomis 1866

Guglielmo Marconi (1874-1937)
thí nghiệm truyền tín hiệu vượt Đại Tây Dương 1901 

    Năm 1829, Hans Christian Orsted đã đưa ra một thí nghiệm để chứng minh thuộc tính từ của dòng điện, đó là dòng điện chạy trong một cuộn dây làm chệch hướng của kim la bàn đặt gần. Chính thí nghiệm của Orsted đã khơi mào cho André-Marie Ampère phát triển lý thuyết về điện từ và kế đó là Francesco Zantedeschi với nghiên cứu về sự liên quan giữa ánh sáng, điện và từ trường.

      Năm 1831, Michael Faraday đã thực hiện một loạt các thí nghiệm để chứng minh sự tồn tại của hiện tượng cảm ứng điện từ. Mối quan hệ này đã được ông xây dựng thành một mô hình toán học của định luật Faraday.

      Joseph Henry đã thực hiện một thí nghiệm chứng minh được lực từ có thể tác động từ độ cao 61 m vào năm 1832. 'Ông cũng chính là người đầu tiên tạo ra dòng điện xoay chiều dao động với tần số cao.

      Từ năm 1861 đến năm 1865, dựa trên những nghiên cứu của Faraday nhà khoa học James Clerk Maxwell đã phát triển một học thuyết mang tên thuyết sóng điện từ. Dù ông không phải là người phát minh ra sóng radio, nhưng chính học thuyết này đã đặt một nền móng vững chắc cho sự ra đời của sóng radio cũng như máy phát thanh ngày nay.

    Năm 1866, Mahlon Loomis - một nha sĩ người Mỹ đã thực hiện một thí nghiệm nhằm chứng minh khái niệm "Điện báo không dây". Và 20 năm sau đó, nhà vật lý nổi tiếng người Đức Heinrich Rudolph Hertz đã một lần nữa chứng minh sự biến thiên nhanh chóng của dòng điện có thể được truyền đi trong không gian dưới dạng sóng vô tuyến tương tự ánh sáng và nhiệt.

Những tín hiệu radio đầu tiên
     Guglielmo Marconi một nhà phát minh người Ý đã chứng minh tính khả thi của việc truyền thông tin vô tuyến trong không gian.

      Ông đã gởi và nhận thành công những tín hiệu radio đầu tiên vào năm 1895. Và vào những năm đầu thế kỷ 20

      Năm 1901, ông đã truyền đi tín hiệu không dây đầu tiên qua đại dương từ Poldhu, Cornwall. Khoảng cách giữa 2 điểm thu và nhận vào khoảng 3500 km.

     Năm 1909, Marconi và Karl Fedinand Braun cùng nhận được giải Nobel vật lý về những "đóng góp dáng ghi nhận vào sự phát triển của công nghệ truyền tin không dây."

    Nikola Tesla và Nathan Stufflefield cũng nhận được bằng sáng chế cho máy phát sóng vô tuyến tại Mỹ.
Máy phát tín hiệu đầu tiên được gọi là "Spark-gap machines"​


      Các thiết bị truyền tín hiệu không dây này được lắp đặt trên một số tàu biển.

     Năm 1899, Hải quân Hoa Kỳ đã thành lập một mạng lưới liên lạc không dây giữa những tàu hải đăng ngoài khơi đảo Fire bang New York. 2 năm sau, Hải quân Hoa Kỳ đã chính thức áp dụng hệ thống liên lạc không dây bằng sóng radio này trong quân đội.


     Năm 1901, dịch vụ gửi điện báo bằng sóng radio đã được thiết lập giữa 5 hòn đảo thuộc quần đảo Hawaii.

     Vào năm 1903, trạm phát Marconi được đặt tại Wellfleet, Massachusetts đã gởi một thông điệp chào mừng của tổng thống Theodore Roosevelt đến với vua King Edward VII của Anh.

     Năm 1905, các báo cáo về trận hải chiến tại cảng Arthur trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật đã được truyền đi bằng phương pháp điện báo không dây

     Năm 1906, cục dự báo thời tiết Mỹ đã áp dụng phương pháp này để cải thiện tốc độ truyền thông tin dự báo thời tiết.


     Năm 1910, Marconi đã mở một dịch vụ truyền tin không dây giữa Mỹ và Châu Âu

    Năm 1912, dịch vụ truyền điện tín bằng sóng radio xuyên Thái Bình Dương đầu tiên đã được thiết lập giữa San Francisco và Hawaii.


    Lee De Forest đã phát minh ra thuật điện báo trong không gian sử dụng bộ khuếch đại Triode và đèn 3 cực (Audion).
 Nội dung bức điện nổi tiếng giữa tổng thống 
Theodore Roosevelt và vua King Edward VII năm 1903.​


Lee DeForest (ảnh 1914 - 1932)

      Năm 1900, Lee De Forest chính là người phát hiện ra hiện tượng bức xạ điện từ.  Tín hiệu phát đi có cường độ mạnh hơn so với trước đó. De Forest cũng chính là người đầu tiên (Là cha đẻ) đặt tên cho hệ thống khuếch đại này là "đài phát thanh".
      Năm 1919, Radio đã bị hạn chế trong chiến tranh.

Radio AM của De Forest (ảnh 1916)

      Fessenden là một nhà hóa học từng làm việc cho Thomas Edison trong những năm 1880. Sau đó, ông thành lập công ty của riêng mình và phát minh ra phương pháp biến điệu sóng vô tuyến dựa vào "Nguyên tắc phách" (Heterodyne principle) cho phép truyền tín hiệu trong không trung mà không bị nhiễu.

     Vào năm 1915, giọng nói đầu tiên được đài phát thanh hải quân NAA ở Arlington, bang Virginia truyền đi xuyên lục địa, từ New York đến San Francisco, vượt qua Đại Tây Dương đến tháp Eiffel tại Paris.

     Ngày 2 tháng 11 năm 1920, đài phát thanh KDKA - Pittsburgh đã phát sóng kết quả bầu cử Harding-Cox và bắt đầu một chương trình phát thanh hàng ngày.

     Năm 1927, hệ thống thông tin vô tuyến nối liền Bắc Mỹ và Châu Âu được thành lập
     Năm 1935, các cuộc gọi đầu tiên được thực hiện trên toàn thế giới.

Sự ra đời của sóng FM và đài phát thanh ngày nay
 Chiếc máy Radio bắt sóng FM đầu tiên (ảnh 1923)

 Đài bán dẫn đầu tiên của hãng Sony 
Ăng ten phát sóng FM đầu tiên trên đỉnh tòa nhà Empire State
(ảnh 1965)

     Năm 1933, Edwin Howard Armstrong phát minh ra sóng radio biến tần (Frequency-modulated) hay còn gọi là sóng radio FM.
    Đến năm 1936, tất cả các thông tin liên lạc điện thoại xuyên Đại Tây Dương của Mỹ được truyền sang Anh và Paris đều ứng dụng phương pháp này.

    Năm 1947, các nhà khoa học tại phòng thí nghiệm Bell Labs tại New Jersey, Mỹ đã phát minh ra bóng bán dẫn.
   Năm 1954, Tokyo Telecommunications Engineering Corp - tiền thân của Sony là công ty đầu tiên sản xuất radio bán dẫn di động.

    Năm 1965, một hệ thống ăng ten phát sóng FM đầu tiên trên thế giới được xây dựng trên tòa nhà Empire State ở New York

    Ẩn dưới tất cả những thành công đó là một nỗ lực vô tận của các nhà khoa học, các nhà phát minh nhằm biến cái không thể thành có thể, biến truyền tin hữu tuyến thành vô tuyến. Qua đó, tạo ra sự tiện ích và hàng loạt các ứng dụng của phương pháp truyền tín hiệu không dây cho nhiều lĩnh vực khác nhau.

Sóc Trăng


xem