This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Nấu ăn đơn giản

Hãy cùng gia đình bạn thưởng thức hương vị quê hương.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Tổng số lượt xem trang

giaitrisoctrang

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2018

Các loài rắn lục ở Việt Nam


Các loài rắn lục ở Việt Nam


     Việt Nam là nơi cư ngụ của gần 200 loài rắn thuộc tám họ. Rắn độc chủ yếu thuộc hai họ rắn hổ và rắn lục.


Rắn lục đuôi đỏ (Trimeresurus albolabris)
     Đây là loài rắn cực độc trong số các loài rắn lục. Thân của chúng có màu xanh, đuôi có màu nâu đỏ. Chiều dài thân khoảng 60cm - 100cm. Thức ăn của chúng là chuột, chim, thằn lằn và ếch. Chúng thường cư ngụ vào ban đêm trên mặt đất và nghỉ ngơi trên cây vào ban ngày.
     Chúng sống ở vùng đồi núi có độ cao dưới 400m, đôi khi nó cũng cư trú ở các khu vực thành thị. Đây là loài có mặt hầu như trên khắp lãnh thổ Việt Nam từ Cao Bằng cho đến Kiên Giang, Minh Hải.
     Đây là loài đặc biệt vì trong họ hàng nhà rắn lục chỉ có rắn lục đuôi đỏ là loại đẻ con, chúng không giống một số loài rắn khác ấp trứng mà sau khi trứng được thụ tinh thì ở lại ngay trong bụng rắn mẹ. Lúc rắn mẹ mang thai thì nọc độc của nó tập trung nhiều nhất và hung dữ nhất.
     Rắn lục đuôi đỏ có nọc độc và nguy hiểm. Loài rắn này gây ra nhiều vết thương nguy hiểm do vết cắn của chúng. Một số người dân ở Cần Thơ mới đây cho biết đã gặp và đập chết những con rắn này sau khi bị chúng cắn.

Rắn lục đầu bạc (Azemiops feae)
     Loài này có kích cỡ trung bình, đầu hơi dẹp phân biệt rõ với cổ. Chiều dài cơ thể khoảng 80cm. Chúng sống trên các vùng núi cao lên tới 1.000m. 
    Rắn lục đầu trắng phân bố ở Cao Bằng, Vĩnh Phú, Lạng Sơn. Các chuyên gia khuyến cáo, không nên bắt hay tấn công loài này khi gặp chúng.

Rắn lục núi (Ovophis monticola) 
     Loại này có đầu hình tam giác, mặt trên phủ những vảy nhỏ. Chiều dài cơ thể chúng khoảng 50cm. Thức ăn chủ yếu của loài này là thú nhỏ, chim, thằn lằn, ếch nhái.
    Rắn lục núi thường ở vùng rừng núi, có độ cao lên tới 1.500m. Chúng còn sống gần nơi ở của người như vườn, những bụi rậm gần trường học hay sân chơi. Rắn sinh hoạt về ban đêm. 
   Tại Việt Nam, loài này sống ở Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Vĩnh Phú, Hà Nội, Quảng Trị, Quảng Nam, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum. 

Rắn lục sừng (Trimeresurus cornutus)
     Đầu chúng có hình tam giác phân biệt rõ với cổ, mặt trên đầu phủ vảy nhỏ, có vảy trên mắt phát triển thành cái sừng trên mắt. Kích thước trung bình của cơ thể là 50cm.
     Rắn lục sừng sống ở rừng núi cao thuộc cái tỉnh Lào Cai, Thừa Thiên Huế. Trên thế giới chưa phát hiện loài rắn này. 

Rắn lục Trùng Khánh (Protobothrop trungkhanhensis)
   Kích thước loài này khoảng 70cm, khá nhỏ so với những loài thuộc giống Protobothrops. 
    Chúng có đặc điểm: màu sắc mặt lưng, đầu của con đực và cái tương tự nhau có màu nâu xám nhạt. Chúng sống ở độ cao 500m - 700m trong các khu rừng thường xanh và rừng mưa núi đá vôi nhiệt đới.
     Cho đến nay, rắn lục trùng khánh mới chỉ được phát hiện ở khu bảo tồn thiên nhiên Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. 

Rắn lục xanh (Trimeresurus stejnegeri)
    Nhìn từ bên ngoài, rắn lục xanh tương tự với loài Trimeresurus popeorum, nhưng bộ phận sinh dục của nó có cấu trúc khác nhau về cơ bản, vì thế nhiều người nghĩ hai loài này là một.
    Loài này thường sống ở khu rừng trên núi có độ cao tới 2.845m. Là loài ăn đêm và nửa sống trên. Đôi khi chúng nghỉ hoặc đang săn lùng thức ăn gần các con suối trên núi. Thức ăn của chúng là động vật có vú nhỏ, chim, thằn lằn. Rắn lục xanh phân bố ở Hòa Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng, Gia Lai. 
Rắn lục von gen (Viridovipera vogeli) 
     Đỉnh đầu và thân của loài này màu xanh lục, phần bụng màu xanh lục nhạt hơn. Giới khoa học chưa tìm hiểu rõ về thức ăn của rắn lục miền nam. Chúng thường ăn đêm, sống ở trong bụi rậm, lùm cây thấp ở địa hình đồi núi có độ cao từ 900m đến 1.500m. 
      Loài rắn này sống ở Gia Lai, Đồng Nai, Lâm Đồng.

Rắn lục mũi hếch (Deinaglistrodon acutus)
    Đầu chúng có hình tam giác, mặt trên đầu có phủ lớp vảy lớn. Chiều dài cơ thể khoảng 80cm - 150cm, có khi tới 1.800m. Thức ăn của chúng là thú nhỏ, chim và bò sát. Rắn lục mũi hếch thường ở những vùng rừng núi cao bên suối nước, hoặc ở các nương rẫy.
     Tại Việt Nam, rắn lục mũi hếch phân bố ở Lào Cai, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc.
Sóc Trăng





xem

Sự nguy hiểm từ Pin

Sự nguy hiểm từ Pin

     Rất nhiều các đồ chơi điện tử hiện nay đều sử dụng pin. Với kích thước nhỏ, đây là mối đe dọa tiềm tàng với trẻ em, do các em rất dễ nuốt hay đưa pin vào mũi hay tai.
     Giống như rất nhiều em bé khác, hầu như mọi thứ mà Cameron lấy được, đều được bé cho vào miệng. Không may, tháng 12 năm ngoái, Cameron đã nuốt phải 1 cục pin trong đồ chơi và tình trạng trở nên càng lúc càng tồi tệ. 
    Trong những đồ chơi có thể phát âm thanh, phát sáng, chuyển động, trong điều khiển từ xa, trong đồng hồ đều có thể có pin. Một cục pin lithium rất nhỏ nhưng một khi rơi vào thực quản, dòng điện từ pin có thể đốt cháy thực quản chỉ trong chưa đầy 1 giờ. Hậu quả là bị bỏng thực quản, ảnh hưởng đến não và tim. Nếu rơi vào dạ dày nó sẽ gây loét dạ dày, oxit thủy ngân có trong pin cũng sẽ để lại những ảnh hưởng xấu cho hệ tiêu hóa, bé không thể thở được mà phải thở bằng máy thở.
Em bé Cameron, 18 tháng tuổi
     Mẹ bé Cameron Soto cho biết: "Khi họ nói rằng đó là 1 cục pin cúc áo, tôi bắt đầu hét lên. Vì tôi biết, thứ đó có trong mọi đồ chơi của con".
     Sau khi được các bác sĩ tận tình cứu chữa nên bé dần đã khỏe lại và đã sinh hoạt bình thường.
Sóc Trăng

    

xem

Đồng dao là gì?

Đồng dao là gì?
   
      Đồng dao là thơ ca dân gian truyền miệng của trẻ em Việt Nam trong xã hội xưa. Đồng dao bao gồm nhiều loại: các bài hát, câu hát trẻ em, lời hát trong các trò chơi, bài hát ru em… 
      Thường gặp nhất là các bài đồng dao gắn liền với các trò chơi của trẻ. Tuy chỉ được lưu truyền qua các thế hệ bằng phương thức truyền miệng, nhưng đồng dao và trò chơi-đồng dao đã mang lại cho trẻ em đời sống tinh thần phong phú qua những cảm xúc vui tươi, hồn nhiên, trong sáng cũng như một môi trường giáo dục mang tính học tập cộng đồng.
      Nhạc điệu của các bài đồng dao thường rất đơn giản, chủ yếu là dựa trên tiết tấu của lời thơ. Đặc biệt có nhiều bài thơ ngắn, nhưng câu đầu câu cuối vẫn nối với nhau tạo điều kiện cho các em có thể hát mãi theo kiểu vòng tròn mà không chán.
      Hát ru: Ông bà ta nhận thức rằng để giáo dục trẻ em thì thông qua con đường tình cảm là hiệu quả nhất. Đầu tiên là tình mẹ con tràn trề thấm thía qua những bài hát ru:
“Cục ta cục tác
Diều hâu hung ác
Gà con ở đâu
Về mau mẹ ủ
Mẹ con đông đủ
Chẳng sợ diều hâu”.
      Các chị lớn hơn, thường phải bế em. Buổi trưa đánh võng kẽo kẹt, buổi tối đặt em nằm trên chõng tre giữa sân gió mát, các em hát ru cho bé thiu thiu vào giấc ngủ. 
     Thường các bài hát bắt đầu bằng câu: “Cái ngủ mày ngủ cho ngoan”, hoặc “Cái ngủ mày ngủ cho lâu”, hoặc “Bồng bồng mà nấu canh tôm”… Có khi chưa có em bé thì bế búp bê, cái gối, cuộn vải… cũng à ơi hát ru mình chơi với mình.
      Những bài hát ru thường êm ả chảy dài đều đều theo thể lục bát dân tộc. Những bài hát ru này các em nghe mẹ, nghe bà hát mà thuộc dần dần:
“Kéo kưa lừa xẻ
Ông thợ nào khỏe
Thì ăn cơm vua
Ông thợ nào thua
Về bú tí mẹ”.
      Hát gọi: Đây là lời hát của các em trò chuyện với giới tự nhiên, với mưa, với nắng, với ngọn gió, con chim, con ốc, cái lá, cái hoa, con bê, con nghé… Các em hòa đồng, gần gũi với thiên nhiên trong tình bầu bạn. Mỗi vật, mỗi cảnh tự nhiên đều trở thành một thứ đồ chơi, trò chơi cho các em. Loại bài hát này mang phong vị nguyên sơ cùng hơi thở chất phác của nó.
       Bắt được con cào cào, các em giữ chắc hai đầu càng cho nó nhún nhảy, xập xòe mở cánh:
“Cào cào giã gạo tao xem
Đến mai tao may áo đỏ áo xanh cho cào
Cào cào giã gạo cho nhanh
Đến mai tao may áo đỏ áo xanh cho cào”.
      Khúc đồng dao “Nu na nu nống” không chỉ là một trò chơi vui, mang nhiều tính chất rèn luyện phản xạ, vận động cho trẻ mà còn là một bài hát đồng dao có giai điệu trong sáng, vui tươi, lời ca giản dị nhưng đầy hình ảnh thân thương cùng với bài học giáo dục đạo đức, được trẻ ghi nhớ một cách rất tự nhiên, không hề khiên cưỡng. Hai ba em ngồi xúm vào nhau, cùng duỗi chân ra. Một em đập nhẹ vào chân từng người, mỗi cái đập hát một câu:
“Nu na nu nống
Cái Bống nằm trong
Con Ong nằm ngoài
Củ khoai chấm mật
Bà ngồi bà khóc
Con cóc nhảy ra
Con gà ú ụ
Bà mụ thổi xôi
Bà tôi nấu chè
Tò he cống dụt…”.
     Đến chữ “dụt” trúng vào chân ai, em đó phải đứng lên nhảy lò cò một vòng quanh các bạn rồi lại ngồi chơi tiếp.
     Hay trò chơi-đồng dao “Thả đỉa ba ba” là một trò chơi rất hào hứng với các trẻ khi cùng một lúc được hát, đi và chạy theo nhịp điệu thong thả và linh hoạt. Tuy trò chơi đơn giản nhưng lại rất phù hợp bởi đã đáp ứng được tâm sinh lý của lứa tuổi luôn có nhu cầu cao về vận động:
“Thả đỉa ba ba
Chớ bắt đàn bà
Phải tội đàn ông
Cơm trắng như bông
Gạo tiền như nước
Đổ mắm đổ muối
Đổ chuối, hạt tiêu
Đổ niêu nước chè
Đổ phải nhà nào
Nhà ấy phải chịu
Một trăm quan tiền
Thiên niên củ khoẳm…”.
      Đồng dao còn là một kho kiến thức xã hội về hội hè, đình đám, trong họ ngoài làng, về đồ ăn, thức uống: “Những nồi cơm nếp, những tệp bánh chưng, mứt bí, mứt gừng, mứt chanh, mứt khế…”. 
      Các em được chuẩn bị từ tuổi hoa niên những kiến thức về nghề nghiệp trong xã hội sau này: “Ông thầy có sách, thợ ngạnh có dao, thợ rèn có búa…” hay “Ai cày ruộng nuôi trâu, ai trồng dâu nuôi tằm, ai hay nằm nhịn đói”. Thậm chí các bé gái được đồng dao trang bị cho kiến thức nữ công gia chánh đặc biệt: “Bắt được cua bấy đem về nấu canh, băm tỏi băm hành, xương sông lá lốt”, hay “Canh ốc thì ngọt, canh bứa thì chua”…

     Trò chơi-đồng dao còn giáo dục thể lực ở trẻ. Qua trò chơi, các em được dịp rèn luyện mắt, chân, tay, thính giác, khứu giác…
     Trò chơi-đồng dao như một chất keo kết nối những tình bạn trong sáng, ngây thơ giữa lũ trẻ với nhau mà ta khó tìm thấy trong các trò chơi hiện đại ngày nay.
     Kho tàng đồng dao và trò chơi trẻ em Việt Nam quả thật là những hình thức giáo dục có hiệu quả. Tiếc rằng, với cuộc sống hiện đại, nó dần dần mai một. Chúng ta hiếm gặp hình ảnh các em tụm năm tụm ba chơi các trò “Dung dăng dung dẻ”, “Rồng rắn lên mây”, “Bịt mắt bắt dê”… vào những đêm trăng sáng. Đã đến lúc các nhà giáo dục nên vào cuộc để duy trì sức sống của đồng dao trong không gian văn hóa đương đại.
Sóc Trăng (sưu tầm)

xem

Chiếc điện thoại đầu tiên

Chiếc điện thoại đầu tiên

    Trong thế giới hiện đại, chiếc điện thoại đã trở thành một vật dụng hữu ích không thể thiếu đối với đời sống của con người. Và người đã tạo ra cuộc cách mạng cho ngành bưu chính viễn thông này chính là Alexander Graham Bell, ông tổ của chiếc điện thoại ngày nay.

      Alexander Graham Bell (sinh ngày 3/3/1847, mất ngày 2/8/1922) là nhà phát minh, nhà khoa học, nhà cải cách người Scotland. Ông sinh ra và trưởng thành ở Edinburgh, Scotland, sau đó di cư đến Canada vào năm 1870 và đến Mỹ vào năm 1871 rồi trở thành công dân Mỹ từ năm 1882. Bell luôn cảm thấy hứng thú đối với việc tái hiện âm thanh.
    Năm 23 tuổi, Alexander Graham Bell tập trung nghiên cứu về giọng nói của con người và tai, do vậy ông đã khám phá ra phương pháp truyền tin bằng điện.

     Trước khi chiếc máy điện thoại của Bell ra đời vào năm 1876, ý tưởng về một chiếc máy điện thoại đã được đem ra tranh luận từ năm 1844. Nhưng phải hơn 30 năm sau, người ta mới biến được giấc mơ đó thành hiện thực, với cuộc gọi đầu tiên được thực hiện giữa Alexander Graham Bell và người trợ lý của ông ngồi cách đó 4-5 mét vào ngày 10/3/1876 với mẩu hội thoại ngắn ngủi: “Watson, anh đến đây nhé, tôi có việc cần!”. 
     Bell biết rằng, thí nghiệm của mình đã thành công và đây chính là sự kiện lịch sử đánh dấu chính thức sự ra đời của chiếc điện thoại liên lạc.
     Chiếc điện thoại của Alexander Graham Bell thực sự là một bước tiến công nghệ đột phá, là kết quả của một nỗ lực nghiên cứu tìm tòi ra phương thức liên lạc mới thay thế cho máy điện báo thô sơ thường được sử dụng trước đó.
      Bell đã được nhận bằng phát minh số 174465 về máy điện thoại. Tháng 6/1876, lần đầu tiên, máy điện thoại được đưa vào sử dụng tại hội chợ triển lãm “Contennial Exposition” ở Philadelphia.
                                    Alexander Graham Bell nói chuyện qua điện thoại năm 1892.

      Những chiếc điện thoại được sản xuất hàng loạt với thiết kế thô sơ chỉ có 2 đầu: một ống nói và một ống nghe.
      Đến sự ra đời tiếp sau đó của những chiếc bốt điện thoại. Bốt điện thoại báo hiệu một xu hướng của tương lai khi mà chúng giúp bạn có thể gọi cho bất cứ ai khi đi trên đường. Đây chính là tiền đề để các mẫu điện thoại tiến gần hơn đến “mốc” di động.
                                     "Điện thoại di động" đầu tiên với tên gọi "Carry phone"

       Năm 1967, chiếc điện thoại “di động” đầu tiên có tên là “Carry phone”, đánh dấu một bước tiến gần hơn đến mẫu điện thoại di động nguyên bản. Mang danh là di động nhưng việc sử dụng nó thì vô cùng bất tiện khi người ta cứ phải vác “kè kè” bên mình một chiếc hộp máy to sụ nặng tới 4-5 kg và giá thành lại rất cao nên nó hầu như không được phổ biến rộng rãi cho đến khi phiên bản nhỏ gọn của nó được tung ra thị trường.

      Ngày 3/4/1973, mẫu điện thoại cầm tay đầu tiên Motorola Dyna Tac do nhà phát minh Martin Cooper sáng chế được “trình làng”. Tuy nhiên, khi đó chúng đơn thuần là một màn trình diễn công nghệ mới chứ chưa thể được dùng để thay thế hoàn toàn cho điện thoại cố định. Hình dáng ban đầu giống như một “cục gạch” nặng nề thô kệch và vô cùng bất tiện khi mang theo mình.
                           Motorola Dyna Tac do Martin Cooper sáng chế 1973 

      Từ đó đến nay, chiếc điện thoại di động đã không ngừng phát triển cả về công nghệ và kiểu dáng. Các thương hiệu sản xuất di động hàng đầu trên thị trường có thể kể đến như Nokia, Blackberry, Samsung, LG, Sony Ericsson, Motorola… 
     Chúng ta không thể dự đoán trong tương lai chiếc điện thoại sẽ còn thay đổi đến đâu khi mà những tiến bộ khoa học công nghệ đang không ngừng phát triển. Song có một điều chắc chắn rằng, nó vẫn là một trong những vật dụng thiết yếu của chúng ta...
Sóc Trăng (sưu tầm)




xem

Người phát minh ra tivi đầu tiên

Người phát minh ra tivi đầu tiên

      Năm 1885 một sinh viên người Đức Níp-câu ( Paul Gottlieb Nipkow) đưa ra phát kiến hệ thống tivi cơ điện tử đầu tiên. Thiết kế quay đĩa của Nipkow được xem là chuyển đổi hình ảnh thành các điểm chấm.
      Năm 1907, sự phát minh của công nghệ ống phóng đại mới giúp các thiết kế của ông thành hiện thực.
      Ngày 25/8/1900 thời điểm đó Péc-ski (Constatin Perskyi) đề xuất từ Tivi trong một xuất bản tại Viện điện tử quốc tế ở Hội chợ Quốc tế ở Pari. Các xuất bản của Perskyi tóm tắt lại công nghệ cơ điện tử, đề cập đến thành quả của Nipkow và các đồng sự.
Năm 1911, Râu-sinh (Boris Rosing) và học trò của ông, Vô-ri-kin (Vladimir Kosma Zworykin) thành công trong việc tạo ra hệ thống tivi sử dụng bộ phân hình gương để phát hình, theo Zworykin, "các hình rất thô" qua các dây tới ống điện tử Braun (ống cathode) trong đầu nhận. Các hình không chuyển động vì bộ phân hình, có "độ nhạy cảm không đủ và các phân tử selen quá chậm".
     Năm 1931 Rosing bị Stalin đày đến Ác-khan-ghen (Arkhangelsk) và qua đời năm 1933, nhưng Zworykin sau đó quay lại làm việc cho RCA để xây dựng tivi điện tử, thiết kế này sau đó bị phát hiện là vi phạm bản quyền của Phan-sớc (Philo Farnsworth), người đã công bố hệ thống phát hình đầu tiên từ năm 1928 trước đó. 

Philo Farnsworth

      Năm 1920, nhà khoa học Mỹ Gien-kin (Charles Francis Jenkins) và nhà khoa học Anh (Be-đơ) John Logie Baird đã tạo ra vật mẫu thành công đầu tiên của chiếc TV. Năm 1927, một người Mỹ trẻ tuổi là Phan-sớt (Philo Taylor Farnsworth) đã phát triển thành công phiên bản thương mại ống tia cực âm nhằm phát tín hiệu truyền hình điện tử và đây là bước đột phá trong nghệ truyền hình của nhân loại.
      Năm 1930, một vài tiêu chuẩn của công nghệ TV cùng xuất hiện và cạnh tranh để thống trị thị trường non trẻ này. Một trong những sản phẩm chiếm ưu thế là chiếc EMI-Marconi. 
      Năm 1950 có thể chạy 25 khung hình trên một giây và khá phổ biến tại Anh. Một tiêu chuẩn TV khác có thể chạy 30 khung hình trên giây và chủ yếu phát triển tại Mỹ. Chiếc TV thương mại thành công đầu tiên bắt đầu xuất hiện tại các Triển lãm (showroom) ở Mỹ vào đầu những năm 1950. 
      Ngay khi nhận thấy những nội dung trên TV có giá trị khai thác, các công ty lập tức lao vào chạy đua trong ngành truyền hình. Thực tế này dẫn đến sự cần thiết phải có quy định về tần số phát sóng của các kênh. Sức mạnh của TV là việc phát trực tiếp những bước đi lịch sử của nhà du hành Mỹ Em-strông (Neil Amstrong) trên mặt trăng, ngày 20/1/1969. Nỗ lực phát triển TV màu xuất hiện từ đầu những năm 1950 và chiếc đầu tiên được hãng RCA giới thiệu năm 1954.
      Nhưng phải đến những năm 1960 việc bán các TV màu mới bắt đầu sinh lợi. Tới năm 1974 thì TV màu đã trở thành biểu tượng cho các gia đình giàu có tại Mỹ. 
      Năm 1959, hãng Philco đưa vào thị trường chiếc TV chỉ có màn hình rộng 2 inch và có thể thu cả sóng radio. 
      Năm 1980, ngành truyền hình Mỹ do 3 mạng lưới chính thống trị, trong khi khán giả tại các nước châu Âu và châu Á bị giới hạn trong các lựa chọn chương trình.
      Ngày nay ở Việt Nam TV đã phổ biến rộng rãi với các dạng khác nhau và có thể bắt được hàng trăm kênh khác nhau trong và ngoài nước.
Sóc Trăng

xem

Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2018

Phát minh radio đầu tiên

Phát minh radio đầu tiên

Sóng Radio:


     Sóng radio hay sóng vô tuyến là một dạng bức xạ điện từ có phổ dài hơn ánh sáng hồng ngoại, tần số từ 3 kHz đến 300 GHz.
     Sóng vô tuyến truyền với vận tốc vận tốc ánh sáng và trong tự nhiên, nó xuất hiện từ hiện tượng sấm sét.

 James Clerk Maxwell (1831-1879)
cha đẻ của thuyết sóng điện từ

Thí nghiệm của Hans Christian Ørsted​ về sóng điện từ


     Radio là thiết bị điện tử nhận các sóng âm đã được biến điệu qua ăng-ten để khuếch đại. Máy radio hình thành dựa trên sự phát triển của 3 phát minh có mối liên hệ mật thiết với nhau, đó chính là radio, máy điện báo và điện thoại (Wireless telegraphy).


    Chiếc máy radio bắt đầu từ việc phát minh ra "Sóng radio" (Radio wave) - một loại sóng điện từ có khả năng truyền âm nhạc, giọng nói, hình ảnh và cả dữ liệu trong không trung từ nơi này đến nơi khác.

    Các thiết bị sử dụng sóng điện từ với các tần số khác nhau nhằm thực hiện các chức năng khác nhau.

    Sóng radio có tần số trong khoảng từ 3 Hz đến 300 GHz.



   Vào năm 1800, Alessandro Volta đã phát triển những phương pháp để tạo ra dòng điện. Tiếp theo là Gian Domenico Romagnosi với nghiên cứu về sự liên quan giữa dòng điện và từ tính nhưng nghiên cứu của ông chưa được công nhận.
 Bảng phác thảo thí nghiệm 
qua 2 con diều của Mahlon Loomis 1866

Guglielmo Marconi (1874-1937)
thí nghiệm truyền tín hiệu vượt Đại Tây Dương 1901 

    Năm 1829, Hans Christian Orsted đã đưa ra một thí nghiệm để chứng minh thuộc tính từ của dòng điện, đó là dòng điện chạy trong một cuộn dây làm chệch hướng của kim la bàn đặt gần. Chính thí nghiệm của Orsted đã khơi mào cho André-Marie Ampère phát triển lý thuyết về điện từ và kế đó là Francesco Zantedeschi với nghiên cứu về sự liên quan giữa ánh sáng, điện và từ trường.

      Năm 1831, Michael Faraday đã thực hiện một loạt các thí nghiệm để chứng minh sự tồn tại của hiện tượng cảm ứng điện từ. Mối quan hệ này đã được ông xây dựng thành một mô hình toán học của định luật Faraday.

      Joseph Henry đã thực hiện một thí nghiệm chứng minh được lực từ có thể tác động từ độ cao 61 m vào năm 1832. 'Ông cũng chính là người đầu tiên tạo ra dòng điện xoay chiều dao động với tần số cao.

      Từ năm 1861 đến năm 1865, dựa trên những nghiên cứu của Faraday nhà khoa học James Clerk Maxwell đã phát triển một học thuyết mang tên thuyết sóng điện từ. Dù ông không phải là người phát minh ra sóng radio, nhưng chính học thuyết này đã đặt một nền móng vững chắc cho sự ra đời của sóng radio cũng như máy phát thanh ngày nay.

    Năm 1866, Mahlon Loomis - một nha sĩ người Mỹ đã thực hiện một thí nghiệm nhằm chứng minh khái niệm "Điện báo không dây". Và 20 năm sau đó, nhà vật lý nổi tiếng người Đức Heinrich Rudolph Hertz đã một lần nữa chứng minh sự biến thiên nhanh chóng của dòng điện có thể được truyền đi trong không gian dưới dạng sóng vô tuyến tương tự ánh sáng và nhiệt.

Những tín hiệu radio đầu tiên
     Guglielmo Marconi một nhà phát minh người Ý đã chứng minh tính khả thi của việc truyền thông tin vô tuyến trong không gian.

      Ông đã gởi và nhận thành công những tín hiệu radio đầu tiên vào năm 1895. Và vào những năm đầu thế kỷ 20

      Năm 1901, ông đã truyền đi tín hiệu không dây đầu tiên qua đại dương từ Poldhu, Cornwall. Khoảng cách giữa 2 điểm thu và nhận vào khoảng 3500 km.

     Năm 1909, Marconi và Karl Fedinand Braun cùng nhận được giải Nobel vật lý về những "đóng góp dáng ghi nhận vào sự phát triển của công nghệ truyền tin không dây."

    Nikola Tesla và Nathan Stufflefield cũng nhận được bằng sáng chế cho máy phát sóng vô tuyến tại Mỹ.
Máy phát tín hiệu đầu tiên được gọi là "Spark-gap machines"​


      Các thiết bị truyền tín hiệu không dây này được lắp đặt trên một số tàu biển.

     Năm 1899, Hải quân Hoa Kỳ đã thành lập một mạng lưới liên lạc không dây giữa những tàu hải đăng ngoài khơi đảo Fire bang New York. 2 năm sau, Hải quân Hoa Kỳ đã chính thức áp dụng hệ thống liên lạc không dây bằng sóng radio này trong quân đội.


     Năm 1901, dịch vụ gửi điện báo bằng sóng radio đã được thiết lập giữa 5 hòn đảo thuộc quần đảo Hawaii.

     Vào năm 1903, trạm phát Marconi được đặt tại Wellfleet, Massachusetts đã gởi một thông điệp chào mừng của tổng thống Theodore Roosevelt đến với vua King Edward VII của Anh.

     Năm 1905, các báo cáo về trận hải chiến tại cảng Arthur trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật đã được truyền đi bằng phương pháp điện báo không dây

     Năm 1906, cục dự báo thời tiết Mỹ đã áp dụng phương pháp này để cải thiện tốc độ truyền thông tin dự báo thời tiết.


     Năm 1910, Marconi đã mở một dịch vụ truyền tin không dây giữa Mỹ và Châu Âu

    Năm 1912, dịch vụ truyền điện tín bằng sóng radio xuyên Thái Bình Dương đầu tiên đã được thiết lập giữa San Francisco và Hawaii.


    Lee De Forest đã phát minh ra thuật điện báo trong không gian sử dụng bộ khuếch đại Triode và đèn 3 cực (Audion).
 Nội dung bức điện nổi tiếng giữa tổng thống 
Theodore Roosevelt và vua King Edward VII năm 1903.​


Lee DeForest (ảnh 1914 - 1932)

      Năm 1900, Lee De Forest chính là người phát hiện ra hiện tượng bức xạ điện từ.  Tín hiệu phát đi có cường độ mạnh hơn so với trước đó. De Forest cũng chính là người đầu tiên (Là cha đẻ) đặt tên cho hệ thống khuếch đại này là "đài phát thanh".
      Năm 1919, Radio đã bị hạn chế trong chiến tranh.

Radio AM của De Forest (ảnh 1916)

      Fessenden là một nhà hóa học từng làm việc cho Thomas Edison trong những năm 1880. Sau đó, ông thành lập công ty của riêng mình và phát minh ra phương pháp biến điệu sóng vô tuyến dựa vào "Nguyên tắc phách" (Heterodyne principle) cho phép truyền tín hiệu trong không trung mà không bị nhiễu.

     Vào năm 1915, giọng nói đầu tiên được đài phát thanh hải quân NAA ở Arlington, bang Virginia truyền đi xuyên lục địa, từ New York đến San Francisco, vượt qua Đại Tây Dương đến tháp Eiffel tại Paris.

     Ngày 2 tháng 11 năm 1920, đài phát thanh KDKA - Pittsburgh đã phát sóng kết quả bầu cử Harding-Cox và bắt đầu một chương trình phát thanh hàng ngày.

     Năm 1927, hệ thống thông tin vô tuyến nối liền Bắc Mỹ và Châu Âu được thành lập
     Năm 1935, các cuộc gọi đầu tiên được thực hiện trên toàn thế giới.

Sự ra đời của sóng FM và đài phát thanh ngày nay
 Chiếc máy Radio bắt sóng FM đầu tiên (ảnh 1923)

 Đài bán dẫn đầu tiên của hãng Sony 
Ăng ten phát sóng FM đầu tiên trên đỉnh tòa nhà Empire State
(ảnh 1965)

     Năm 1933, Edwin Howard Armstrong phát minh ra sóng radio biến tần (Frequency-modulated) hay còn gọi là sóng radio FM.
    Đến năm 1936, tất cả các thông tin liên lạc điện thoại xuyên Đại Tây Dương của Mỹ được truyền sang Anh và Paris đều ứng dụng phương pháp này.

    Năm 1947, các nhà khoa học tại phòng thí nghiệm Bell Labs tại New Jersey, Mỹ đã phát minh ra bóng bán dẫn.
   Năm 1954, Tokyo Telecommunications Engineering Corp - tiền thân của Sony là công ty đầu tiên sản xuất radio bán dẫn di động.

    Năm 1965, một hệ thống ăng ten phát sóng FM đầu tiên trên thế giới được xây dựng trên tòa nhà Empire State ở New York

    Ẩn dưới tất cả những thành công đó là một nỗ lực vô tận của các nhà khoa học, các nhà phát minh nhằm biến cái không thể thành có thể, biến truyền tin hữu tuyến thành vô tuyến. Qua đó, tạo ra sự tiện ích và hàng loạt các ứng dụng của phương pháp truyền tín hiệu không dây cho nhiều lĩnh vực khác nhau.

Sóc Trăng


xem

Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2018

Cây Dừa


Giới thiệu về cây Dừa



1.     Đặc điểm chung
 Cây dừa là một trong những loài cây phổ biến ở khắp thế giới. Ở Việt Nam, cây dừa phổ biến ở khu vực miền Nam Trung Bộ, bởi ở đây đất đai khí hậu nóng ẩm vô cùng thích hợp để trồng loại cây này. 

 Nhắc đến quả dừa, nước dừa… thì hẳn ai cũng đều biết, đều có thể tự hình dung, phác họa trong đầu của mình đó là một trái màu xanh, vỏ cứng, nước ngọt, ruột thơm vô cùng bổ dưỡng.
       
        Dừa là một loại cây ăn quả họ cau, vì vậy mà thân của cây dừa không phải là loại cây thân gỗ mà cũng không quá mềm mại như loài thực vật thân mềm.

       Thân dừa không quá cứng nhưng đủ vững chắc để nuôi những chùm quả trĩu nặng, tuy không quá cứng cáp nhưng nhờ có bộ rễ lớn, ăn sâu vào lòng đất mà dù cho có gió bão cũng không thể quật ngã được. Thân của cây dừa có màu nâu nhạt, sần sùi và thẳng tắp.

         Cây dừa không có cành mà chỉ có lá. Lá của cây dừa cũng không mọc ở thân cây mà chỉ mọc ở ngọn cây. Cao khoảng 20 – 25 m, trên thân dừa có những đốt như hổ vằn, thường có màu nâu sậm, đường kính khoảng 45 cm. Tùy vào từng giống dừa mà chiều cao của cây dừa cũng có sự khác nhau.

         Lá dừa rất giống lá của cây cau, nhưng nó lớn hơn và cứng cáp hơn rất nhiều. Lá dừa mọc thành từng tàu nên gọi là tàu dừa, lá dừa dày dặn và rất dài, ở giữa của mỗi chiếc lá đều nổi lên một đường gân lá lớn, cứng. Lá dừa còn được dùng để lợp mái nhà, được dùng để đun nấu thay cho rơm…nói chung chỉ một tàu dừa đơn giản thôi nhưng mang trong mình biết bao nhiêu công dụng hữu ích.
     
        
Rễ dừa có dạng hình tròn, nhỏ, mọc thành chùm ăm sâu vào trong đất, phạm vi rễ dừa phát triển có thể từ 2 -> 5m từ vị trí mọc của cây dừa. Vì vậy mà cây dừa vô cùng chắc chắc, dù có gió bão thổi qua cũng không thể quật ngã được nó.

         Quả dừa thường có màu xanh, to bằng quả bóng và thường mọc thành từng trùm. Quả của chúng kết thành buồng, mỗi cây có rất nhiều buồng và mỗi buồng dừa có nhiều quả, trung bình mỗi buồng từ 5 đến 10 trái dừa, có loại trên 20 trái.


Dừa Xiêm đỏ

     2. Lợi ích
        Cây dừa mang trong mình rất nhiều công dụng hữu ích dù là bộ phận nào của cây dừa cũng có thể phục vụ cho cuộc sống hàng ngày.

        Dừa là loại cây ăn quả, cây cảnh. Đối với trẻ em ở nông thôn thì những chiếc lá dừa là nguyên liệu làm nên những đồ vật, đồ chơi vô cùng đẹp mắt, đó là những con chuồn chuồn, cào cào, những chiếc đồng hồ… tuy những đồ chơi ấy được tạo ra từ những vật liệu đơn giản nhưng nó vô cùng đẹp, ngày nay người ta còn dùng lá dừa làm ra các đồ thủ công mĩ nghệ, vật lưu niệm cho du khác.


Thắt con cào cào

Thắt nón tai bèo

Đồ mỹ nghệ làm từ dừa
        Có 2 loại dừa: dừa cao và dừa lùn.
- Dừa lùn thường trồng để làm cảnh
       - Dừa cao được phân ra thành các loại dừa như: Dừa xiêm, dừa bị, dừa nếp, dừa lửa, dừa dâu, dừa dứa, dừa sáp.

       Quả dừa có rất nhiều công dụng hữu ích, vỏ dừa sau khi phơi khô được dùng để đun nấu, vỏ dừa cháy rất bén vì nó có dầu dừa, phần sọ của quả dừa vì cứng cáp nên những người nông dân sau khi thu hoạch thì rất khéo léo không làm nó bị vỡ và sau đó dùng làm gáo đựng nước. Phần ruột dừa vô cùng thơm ngon, nhiều công dụng nhất, nó có thể dùng để rang với thịt, dùng để ăn. Ngày nay nó còn được dùng để ép nước cốt dừa, làm đẹp cho da, làm thuốc chữa bệnh. Nước dừa thì để giải khát rất tốt, dùng để tắm cho trẻ sơ sinh… Ngoài ra nước dừa dùng để kho cá, kho thịt, thắng nước màu. Phần cùi dừa dùng để làm mứt, cơm dừa dày được xay nhuyễn, vắt nước cốt làm kẹo dừa, nấu dầu dừa, làm xà phòng. Bã dừa dùng làm bánh dầu, để bón phân hoặc làm thức ăn cho gia súc. Phần vỏ cứng của trái dừa được sử dụng làm than hoạt tính, chất đốt hoặc làm các mặt hàng thủ công mỹ nghệ rấr được ưa chuộng ở các nước phương Tây. Xơ dừa được đánh tơi ra dùng làm thảm, làm nệm, làm dép đặc trị cho những người bệnh thấp khớp hoặc bện làm dây thừng, lưới bọc các bờ kè chống sạt lở ven sông. Lá dừa có thể dùng để lợp nhà, làm phên liếp, chằm nón, mà còn là chất đốt thường dùng để đun nấu phổ biến ở thôn quê, lá dừa khô bó lại làm đuốc để đi trong đêm tối trời.        
        
       Thân dừa để bắc ngang con mương nhỏ làm cầu. Do thân dừa rất chắc nên người ta đã dùng nó làm cột, làm kèo xây nhà, hoặc sáng tạo ra các mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác hoặc làm chén đũa...
        
       Bông dừa tươi được dùng làm vật trang trí rất đẹp mắt. Đọt dừa non có thể làm gỏi, lăn bột, xào.. rất thích hợp với người ăn chay. Có một món ăn đăc biệt mà nhiều người không biết đó là con sâu sống trên cây dừa (còn gọi là đuông dừa). Do ăn đọt dừa non nên đuông dừa béo múp míp nên được chế biến thành nhiều món ăn khoái khẩu và bổ dưỡng.

        Như vậy, Dừa là một loại cây rất có ích cho con người, và được phân bố trên khắp các nước trên thế giới mà con người cần bảo vệ.

      Lưu ý: dừa có nhiều loại: dừa xiêm xanh, dừa xiêm đỏ, dừa ta, dừa dứa, dừa xáp, dừa nước....
Sóc Trăng


xem